Đối tượng và chức năng của bảo hiểm xã hội

Đối tượng BHXH

Để có sự nhận biết đúng đắn, đầy đủ về một loại hình bảo hiểm nào đó, trước hết chúng ta phải xem xét đến các khái niện cơ bản của chúng như: đối tượng được tham gia, đối tượng được bảo hiểm, đối tượng hưởng thụ quyền lợi bảo hiểm. Đối với BHXH việc nhận biết các đối tượng này không khó, tuy nhiên vẫn có nhiều người nhầm lẫn giữa đối tượng và đối tượng tham gia BHXH, họ cho rằng đối tượng của BHXH là NLĐ. Thực ra trong BHXH thì đối tượng của nó chính là thu nhập của NLĐ. Bởi lẽ khi NLĐgặp sự cố hoặc rủi ro thì họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động dẫn đến thu nhập bị giảm hoặc mất hẳn, do đó tại thời điểm họ mong muốn có một khoản tiền nhất định để chi trả cho những nhu cầu thiết yếu cũng như các nhu cầu mới phát sinh.
Cần phân biệt đối tượng của BHXH với đối tượng tham gia BHXH, bởi vì hai định nghĩa này rất dễ nhần lẫn. Đối tượng tham gia BHXH là NLĐ và người sử dụng lao động. Tuy nhiên, tuỳ theo vào điều kiện phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia mà đối tượng này có thể là tất cả hoặc có thể là một bộ phận những NLĐ nào đó. Hầu hết các nước mới có chính sách BHXH đều thực hiện BHXH đối với các viên chức Nhà nước, những người làm công ăn lương. Việt Nam cũng không thoát khỏi thực tế này, mặc dù biết rằng như vậy là không bình đẳng giữa tất cả những NLĐ, làm việc ở tất cả mọi thành phần kinh tế.
Xem xét mối quan hệ rằng buộc trong BHXH, ngoài NLĐ còn có người SDLĐ và cơ quan BHXH dưới sự bảo trợ của Nhà nước. Người SDLĐ tham gia đóng góp vào BHXH là vì phần họ thấy được lợi ích thiết thực và tính ưu việt khi tham gia BHXH và là trách nhiệm của họ để BHXH cho NLĐ mà họ đang sử dụng, một phần là do sự ép buộc của Nhà nước thông qua các văn bản quy phạm pháp luật. Đối với Nhà nước thì lại khác, họ tham gia BHXH với hai tư cách là chủ SDLĐ đối với tất cả công nhân viên chức và những người hưởng lương từ ngân sách Nhà nước; tư cách thứ hai là người bảo hộ cho quỹ BHXH mà cụ thể là bảo hộ giá trị cho quỹ BHXH, bảo hộ cho sự tăng trưởng của quỹ, nhằm tạo sự ổn định cho quỹ và sự ổn định về mặt chính trị xã hội. Còn cơ quan BHXH nhận sự đóng góp của NLĐ và NLĐ phải có trách nhiệm quản lý, sử dụng quỹ để thực hiện mọi công việc về BHXH đối với NLĐ. Mối quan hệ ràng buộc này là đặc trưng riêng có của BHXH . Nó quyết định sự tồn tại, hoạt động và phát triển của BHXH một cách bền vững.

Tham khảo thêm các dịch vụ khác của Luận Văn 1080:

+ thuê làm luận văn thạc sĩ

dịch vụ phân tích kinh tế lương

Chức năng của BHXH

Chức năng là sự khái quát các nhiệm vụ cơ bản. Cũng như các thành phần khác của nền kinh tế bảo hiểm, BHXH có hai chức năng cơ bản là phân phối và giám đốc. Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của mình BHXH không những có tính kinh tế mà còn có tính xã hội rất cao. Vì vậy, BHXH có những chức năng chủ yếu sau đây:

Thứ nhất, BHXH bảo đảm thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho người lao động.

BHXH thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập cho NLĐtham gia bảo hiểm khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do mất khả năng lao động hoặc mất việc làm. Đây là chức năng cơ bản nhất của BHXH, nó quyết định nhiệm vụ, tính chất và cả cơ chế tổ chức hoạt động BHXH.

Thứ hai, BHXH góp phần phân phối lại thu nhập

BHXH tiến hành phân phối và phân phối lại thu nhập giữa những người tham gia BHXH. Tham gia BHXH không chỉ có NLĐ mà cả những người sử dụng lao động. Các bên tham gia đều phải đóng góp vào quỹ BHXH. Quỹ này dùng để trợ cấp cho một số NLĐ tham gia khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập. Số lượng những người này thường chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng số những người tham gia đóng góp. Như vậy, theo quy luật số đông bù số ít, BHXH thực hiện phân phối lại thu nhập theo cả chiều dọc và chiều ngang. Phân phối lại giữa những NLĐ có thu nhập cao và thấp, giữa những người khoẻ mạnh đang làm việc với những người ốm đau phải nghỉ việc… Thực hiện chức năng này có nghĩa là BHXH góp phần thực hiện công bằng xã hội.

Thứ ba, BHXH kích thích, khuyến khích người lao động hăng hái lao động sản xuất

Đối với NLĐ khi khoẻ mạnh tham gia lao động sản xuất, NLĐ được chủ SDLĐ trả lương hoặc tiền công. Khi ốm đai, thai sản, tai nạn lao động, hoặc khi về già đã có BHXH trợ cấp thay thế nguồn thu nhập bị mất. Vì thế cuộc sống của họ và gia đình họ luôn được đảm bảo ổn định và có chỗ dựa. Do đó, NLĐ yên tâm làm việc và tích cực lao động sản xuất làm nâng cao năng suất lao động và hiệu quả kinh tế. Chức năng này biểu hiện như một đòn bẩy kinh tế kích thích NLĐ nâng cao năng suất lao động vá nhân và kéo theo là năng xuất lao động xã hội tăng lên.

Thứ tư, BHXH phát huy tiềm năng và gắn bó lợi ích giữa người lao động và người sử dụng lao động, giữa người lao động với xã hội

Thông qua BHXH, những mâu thuẫn nội tại, khách quan về tiền lương, tiền công, thời gian lao động… được điều hoà và giải quyết. Đặc biệt cả hai giới này đều thấy nhờ có BHXH mà mình có lợi và được bảo vệ. Từ đó làm cho họ hiểu nhau hơn và gắn bơ lợi ích được với nhau. Đối với nhà nước và xã hội, chi cho BHXH là cách thức phải chi ít nhất và có hiệu quả nhất nhưng vẫn giải quyết được những khó khăn về đời sống cho NLĐ và gia đình họ, góp phần làm cho sản xuất ổn định, kinh tế, chính trị và xã hội được phát triển an toàn hơn.

Các bài có thể xem thêm:

chất lượng nguồn nhân lực

+ Quản lý giáo dục

+ Quản lý là gì

+ Bản chất của bảo hiểm

Đối tượng và chức năng của bảo hiểm xã hội
4.5 (90%) 2 votes

Leave a Reply

Thư điện tử của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *